PCI 2011 - phân tích chiến lược thương hiệu địa phương qua Chỉ số Năng lực Cạnh Tranh cấp tỉnh

Ngay từ khi chương trình nghiên cứu PCI do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID phối với với Phòng TM & CN VN VCCI năm 2007 công bố lần đầu tiên, chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang đã ủng hộ và có những bài viết phân tích với chủ đề mối liên hệ giữa Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chiến lược thương hiệu địa phương(a).Nguyen-Su-PCI

Bài viết này phân tích một số kết quả của vòng nghiên cứu PCI 2011 và công bố vào 2-2012 vừa qua.

Khái quát Phương pháp luận

Phương pháp nghiên cứu khảo sát và đo lường của PCI cũng giống phương pháp nghiên cứu phẫu hình ảnh thương hiệu (brand diagnosis) mà chuyên gia đã có vài lần đề cập trong các bài viết và sử dụng trong các dự ántư vấn thương hiệu doanh nghiệp cũng như thương hiệu địa phương trên cơ sở nghiên cứu định lượng (quantitative) và nghiên thị trường và thiết lập bộ tiêu chí (attributes) và trọng số.
Giới thiệu 9 nhóm  tiêu chí đánh giá (attributes):

(1) Chi phí gia nhập thị trường; (2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; (3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; (4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; (5) Chi phí không chính thức; (6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; (7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (8) Đào tạo lao động và (9) Thiết chế pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu khảo sát và đo lường của PCI cũng giống phương pháp nghiên cứu phẫu hình ảnh thương hiệu (brand diagnosis) mà chuyên gia đã có vài lần đề cập trong các bài viết và sử dụng trong các dự án tư vấn thương hiệu doanh nghiệp cũng như thương hiệu địa phương trên cơ sở nghiên cứu định lượng (quantitative) và nghiên thị trường và thiết lập bộ tiêu chí (attributes) và trọng số.

(1) Chi phí gia nhập thị trường: đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm:- Thời gian đăng kí kinh doanh - số ngày- Thời gian đăng kí kinh doanh bổ sung - Số lượng giấy đăng kí, giấy phép kinh doanh cần thiết để chính thức hoạt động - Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh - % DN gặp khó khăn để có đủ các loại giấy phép cần thiết (bỏ từ năm
2009).
(2) Tiếp cận đất đai: Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không, gồm: % DN có Giấy chứng nhận QSD đất; % diện tích đất có GCNQSD đất; DN đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp); Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% Đồng ý); đánh giá rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê (1: Rất cao hoặc 5: Rất thấp)…
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp; trong đó bao gồm cả tính minh bạch của các tài liệu chính sách, quy hoạch; độ mở của trang web tỉnh; vài trò hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh…
(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra; bao gồm: Mức sử dụng hơn quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Số lần thanh tra; Số giờ trung vị làm việc với thanh tra thuế; Mức độ hiệu quả của cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn; Thủ tục giấy tờ và các loại phí, lệ phí của thủ tục; Mức giảm số ngày làm việc với chính quyền địa phương…
(5) Chi phí không chính thức: Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không. Chẳng hạn như % DN cho rằng các DN cùng ngành trả chi phí không chính thức; Cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi; Công việc chỉ được giải quyết sau khi chi trả chi phí không chính thức; DN trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước…
(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp. Mức độ linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân; Lãnh đạo Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp; Cảm nhận của DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân…
(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp. Cụ thể hơn là: Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm; Số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ doanh nghiệp; % Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh, tư vấn về thông tin pháp luật, hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh; xúc tiến thương mại; các dịch vụ liên quan đến công nghệ; các dịch vụ tư vấn…
(8) Đào tạo lao động: Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm; Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thong; Giáo dục hướng nghiệp dạy nghề; Số lượng trung tâm giới thiệu việc làm trên 100,000 dân; % Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu vệc làm; Tỉ lệ tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động; Tổng số cơ sở đào tạo (Đại học, Trung cấp, Trung tâm dạy nghề) trên 100,000 dân; Số lượng trung tâm dạy nghề cấp huyện trong một huyện của tỉnh…
(9) Thiết chế pháp lý: chỉ số này đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương. Bao gồm: Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức; % Doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp lý sẽ bảo vệ hợp đồng và các quyền tài sản; Số lượng các vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa án kinh tế cấp tỉnh xét xử; Thời gian từ khi nộp đơn cho đến khi tòa án ban hành bản án có hiệu lực...

Khái quát kết quả PCI 2011PCI-2011

Dựa trên kết quả chung này đối chiếu với kết quả PCI các lần trước(b), chúng ta nhận thấy nhìn chung có một số tiêu chí đã được cải thiện như: chi phí gia nhập thị trường giảm với thang điểm đánh giá trung bình cao nhất; chi phí không chính thức được giảm, tức được cho điểm cao; chi phí thời gian để chính quyền triển khai các quy định, chính sách nhà nước cũng được đánh giá cao; vấn đề tiếp cận đất đai được cải thiện hơn mặc dù đằng sau nó vẫn là những dấu hỏi về tiêu chí phương pháp phỏng vấn và kết quả khảo sát.

PCI là đóng góp thiết thực của USAID cơ quan viện trợ phát triển quốc tế Hoa Kỳ cho Việt Nam. Chương trình thiết lập những tiêu chí đánh giá chuyên nghiệp và minh bạch hoá đúng tinh thần quản trị của Mỹ và trong đó có sự đóng góp quan trọng về lý thuyết và phương pháp luận của Giáo sư Edmund Malesky.

Trong giai đoạn đầu PCI gặp một số trở ngại về quan điểm không ủng hộ từ kể cả một số học giả đầu ngành của Việt Nam. Tuy nhiên PCI dần dần nhận được sự ủng hộ của những người có quan điểm tích cực, với sự tham gia đồng hành của lãnh đạo VCCI, và nhận được sụ ủng hộ của thủ tướng chính phủ. Hiện nay PCI là công cụ nghiên cứu & đánh giá chuyên nghiệp và minh bạch nhất về điều hành cấp tỉnh, thành phố, và các tỉnh thành quan tâm xây dựng chiến lược hành động dựa trên tiêu chí PCI đều đã có những chuyển biến rất tích cực. Ngay từ đầu chuyên gia cũng nhận định sự đồng hành giữa PCI và chiến lược thương hiệu địa phương cả về tinh thần lẫn phương pháp luận.

Trong lần phân tích kết quả phiên bản 2011, chúng tôi đi sâu hơn phân tích kết quả và hy vọng góp phần định hướng chiến lược cho những địa phương có tư duy cởi mở và chúng tôi may mắn có dịp được tiếp cận. Việc này suy cho cùng là mang lại cơ hội cho chuyên gia được đóng góp và phát triển tư vấn chiến lược thương hiệu cho địa phương; đồng thời bổ sung một hệ thống phương pháp luận quan trọng sánh ngang với phương pháp Mô hình Lục giác của Simons Anholt (UK) cũng như các phương pháp của chính chuyên gia nghiên cứu và thiết lập, bước đầu đã ứng dụng hoạch định chiến lược thương hiệu địa phương nhất là mảng du lịch.top-city-2011-chi-so-dao-tao-lao-dong

top-city-2011-chi-so-ho-tro-doanh-nghiep

Phân tích của  chuyên gia

Trong nhóm 9 tiêu chí (brand attributes) làm nên thương hiệu địa phương theo phương pháp của PCI, chúng tôi đặc biệt chú ý 4 nhóm tiêu chí dưới góc độ marketing mà giới tư vấn hoàn toàn có thể đóng góp hoạch định cải tiện hay trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ. Đó là: (1) Tính minh bạch tiếp cận thông tin; (2) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo; (3) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và (4) Đào tạo lao động & nguồn nhân lực. Trong số đó chúng ta dễ dàng nhận thấy 2 nhóm tiêu chí ‘dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp’ và ‘đào tạo lao động, nguồn nhân lực’ hiện nay lại là nhóm tiêu chí có điểm trung bình thấp nhất, kể cả trong giản đồ trên đây được tính từ top 10 tỉnh có điểm cao nhất trong từng nhóm tiêu chí (category).

Nhận định này mở ra một hướng phát triển rất lớn mà 63 tỉnh thành đều có thể tham khảo, trong đó ngay cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 2 trung tâm kinh tế lớn cả nước , kết quả khảo sát 2 nhóm chỉ số này cũng chỉ cho thấy kết quả thấp nhất so với thang điểm của 7 nhóm tiêu chí còn lại.PCI-2011-master-score

Dựa trên phân tích 4 nhóm yếu tố chiến lược, quản trị địa phương có liên quan đến marketing, đó là (1) nâng cao tính minh bạch của chính sách và tiếp cận thông tin; (2) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo địa phương; (3) dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và (4) đào tạo nguồn nhân lực địa phương như đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy có nhiều cơ hội cho giới chuyên gia, các doanh nghiệp tư vấn và dịch vụ như phát triển thị trường, phân phối, tư vấn chiến lược, các trường đại học, giới truyền thông, các công ty nghiên cứu thị trường… tích cực hơn nữa trong việc tham gia phối hợp với các địa phương tỉnh thành, hỗ trợ và cung ứng dịch vụ, hoạch định chiến lược phát triển, định hướng đầu tư cho doanh nghiệp của mình trong sự phát triển khai thác cơ hội đồng hành với địa phương. Bên cạnh đó, dĩ nhiên các địa phương, lãnh đạo địa phương cũng cần phải có quan điểm cởi mở và năng động hơn trong việc mời gọi các đơn vị tư vấn, đào tạo, các chuyên gia, giới truyền thông và sáng tạo... để mở rộng năng lực và hoạch định chiến lược toàn diện cho địa phương cũng như triển khai thực hiện, thực tế hoá các chiến lược đã được hoạch định một các chuyên nghiệp.

Cụ thể hơn, đối với nhóm giải pháp (1) nâng cao tính minh bạch và tiếp cận thông tin, địa phương có thể xây dựng thêm các cổng giao tiếp điện tử và lãnh đạo có thể đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp và người dân trong và ngoài tỉnh; các hoạt động báo chí truyền thông thường xuyên sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch của địa phương(c)

Đối với nhóm giải pháp (2) các nhà hoạt động marketing có thể cung cấp các chương trình tư vấn sáng tạo và marketing chiến lược mang tính đột phá (innovation) trực tiếp cho đội ngũ lãnh đạo địa phương nhất là các cơ quan phòng-sở ban ngành cò lien quan đến hoạch định chiến lược kinh tế, xúc tiến thương mại, kinh tế bản địa, ngành du lịch và văn hoá & thể thao, quy hoạch phát triển… có thể thể hiện dưới hình thức chẳng hạn như, hội thảo, workshop, hay tư vấn trong một hình thức tương tác giữa lãnh đạo & quản lý của địa phương, doanh nghiệp địa phương với nhóm chuyên gia, cụ thể như chương trình đối thoại mở của Quảng Nam đã thực hiện năm 2010; (3) đối với nhóm giải pháp, cơ hội cho dịch vụ doanh nghiệp thì đây thật sự đúng là sân chơi của các nhà tư vấn, nhắm đến khách hàng (client) là cộng đồng doanh nghiệp địa phương hay chính lãnh đạo địa phương. Tại Việt Nam trong những năm qua đã và đang hình thành một ngành tư vấn với lực lượng là các anh em đã có kinh nghiệm quản trị và nghiên cứu trong môi trường quốc tế, kể cả một số chuyên gia quốc tế đã thấu hiểu môi trường văn hoá của Việt Nam. Mặc dù giữa hai lực lượng tư vấn và lãnh đạo địa phương vẫn có một khoảng cách nhất định về thông hiểu lẫn nhau nhưng hy vọng thời  gian tới mối quan hệ sẽ gần gũi hơn; (4) nhóm giải pháp, cơ hội trong lĩnh vực đào tạo lao động và nhân lực cũng là một lĩnh vực rất rộng mở, marketing research có thể đóng góp các chương trình nghiên cứu thị trường, tiềm năng và xu hướng góp phần định vị cho chiến lược đào tạo của trường đại học, của địa phương hay khu vực, đồng thời định hướng cho giảng viên và định hướng cho hướng nghiệp và tư vấn tuyển sinh; các  chuyên gia tư vấn thương hiệu cũng có cơ hội đóng góp ý kiến cho hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực địa phương theo chiều sâu nhất là những ngành nghề thiên về chất xám và mang tính sáng tạo. Tất cả đều nhằm mục đích nâng cao tỷ lệ người có việc làm sau đào tạo và nâng cao hiệu quả suất đầu tư, cho vay giữa các định chế tài chính đối với học viên…

Kết quả khảo sát PCI các tỉnh Đông Nam Bộdiem-pci-2011-khu-vuc-nam-bo

Nhìn chung khu vực này đang xếp vị trí khá và trung bình khá trên 63 tỉnh thành cả nước. Mặc dù Long An chiếm vị trí dẫn đầu trong thang tổng sắp nhưng các tỉnh khác cũng nằm ở vị trí không thua kém. Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ xin nếu một số điểm hạn chế để có thể khắc phục bằng những chiến lược thiết thực và phải manbg lại hiệu quả chung cho cộng đồng cũng như vị thế của thương hiệu địa phương.pci-tinh-nang-dong

Bình Thuận bị xem là lãnh đạo có tính năng động kém hơn nhiều so với các tỉnh như Bà Rịa - Vũng Tàu. Thực ra bản thân tác giả hơi ngạc nhiên về điều này… nhưng dù sao Bình Thuận cũng nên có những giải pháp và chương trình cải tiện tích cực hơn theo những tiêu chí riêng của mình chứ không nhất thiết phải theo tiêu chí đánh giá của PCI vì hiện nay nhóm tiêu chí đánh giá này của PCI chỉ có 4 attribute, còn chung chung và chưa sát thực. Bình Thuận cần phát huy tốt quá trình ‘năng động’ trong việc biến tỉnh nhà từ vị trí phát triển kém nhất của những năm trước 1995 trở thành một trong những tỉnh đầu tiên đóng góp ngân sách trung ương trên 1000 từ những năm 2000, có một ngành du lịch phát triển mạnh và hạ tầng khá đồng bộ. Các hoạt động thể hiện sự năng động của lãnh đạo địa phương cần phát huy hơn nữa, có thể là các chương trình xúc tiến đầu tư & du lịch tại Hà Nội, Tp HCM và nhất là cần gia tăng mối liên hệ với cộng đồng doanh nghiệp và giới truyền thông.

Bà Rịa – Vũng Tàu tuy được xếp hạng cao về tiêu chí ‘năng động’ nhưng lại áp cuối bảng trong tiêu chí ‘dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp’ cùng với Tây Ninh. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng giúp cộng đồng doanh nghiệp và tư nhân phát triển, nắm bắt cơ hội kinh doanh, đột phá trong chiến lược phát triển…Việc này thì Đồng Nai đang thực hiện tốt nhất nhưng mặt bằng thang điểm đánh giá vẫn thấp với điểm số cao nhất của Đồng Nai vẫn dưới mức trung bình.pci-dich-vu-ho-tro-doanh-nghiep

Đào tạo lao động’ cũng là lĩnh vực còn kém của cả khu vực Đông Nam Bộ mặc dù nằm ở vị trí trung bình cao so với cả nước. Tiêu chí này cho thấy chiến lược hiện nay về đào tạo nguồn nhân lực, lao động cấp tỉnh thành trên cả nước vẫn còn là một đề tài quan trọng, tính hiệu quả còn thấp và chưa mang lại hiệu quả thiết thực nhất là đối với mảng doanh nghiệp tư nhân như trọng tâm khảo sát của PCI.

Là một khu vực kinh tế năng động và phát triển đồng đều nhất trên cả nước, chúng tôi nhận thấy có nhiều phải làm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và lao động ở khu vực Đông Nam Bộ.pci-dao-tao-lao-dong

Đới với một tiêu chí khác là ‘Tính minh bạch và tiếp cận thông tin’ nhìn chung khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ đều được đánh giá khá cao là một lĩnh vực cần phát huy. Riêng lĩnh vực trang web hiện nay nhiều địa phương trong đó khu vực Đông Nam Bộ được thực hiện rất tốt, tăng tính minh bạch và tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, người dân và nhà đầu tư, du khách. Trong đó ở Bình Thuận có trang web tư nhân cũng hoạt động rất tốt như trang web www.binhthuantoday.com đã hoạt động gần 10 năm nay. Cho dù tỉnh này bị PCI xếp cuối bảng trong nhóm tiêu chí minh bạch & thông tin.PCI-2011-tinh-minh-bach

Đóng góp cho PCI

Bên cạnh việc ứng dụng PCI trong việc hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu địa phương, PCI phiên bản 2011 đã là phiên bản thứ 3 và thực tế đã qua qua quá trình phản biện, nâng cấp. Đây là một chương trình nghiên cứu được xây dựng rất khoa học, trong khuôn khổ bài viết chúng tôi xin phép chỉ nêu 3 ý kiến cụ thể như sau:

Thứ nhất PCI rất chú trọng vào nhóm doanh nghiệp tư nhân, hình thức này nên được mở rộng sang các loại hình doanh nghiệp nói chung và chỉ nên phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và các loại hình doanh nghiệp còn lại theo luật doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp tư nhân 100%, doanh nghiệp cổ phần vốn nhà nước và doanh nghiệp FDI cho dù trong thực tế các loại hình doanh nghiệp còn phong phú hơn. Thứ hai, chúng tôi thấy có sự chênh lệch số lượng các thành tố đánh giá giữa các nhóm tiêu chí; cụ thể khi so sánh giữa 2 nhóm tiêu chí là ‘dịch vụ doanh nghiệp’ và ‘tính năng động của lãnh đạo địa phương’ thì tỷ lệ khác biệt số lượng attribute là 20/4 nghĩa là nhóm tiêu chí ‘tính năng động của lãnh đạo địa phương’ chưa có nhiều gợi ý và câu hỏi, điều này ắt hẳng ảnh hưởng đến mức độ xác thực trong việc phản ảnh thực tế và cho điểm. Ýkiến thứ ba hoàn toàn có thể phi lô-gíc nhưng nó phản ánh một thực tế rất sống động, đó là ‘tiêu chí thứ 10’ theo chuyên gia đó chính là vai trò cá nhân (thương hiệu cá nhân đích thực) của người lãnh đạo. Trong thực tế Việt Nam trong quá trình mở cửa & hội nhập là thời gian mà tác giả có tạm đủ khả năng quan sát xã hội, thì ở mỗi địa phương thành công đều có vai trò quan trọng (thậm chí có thể nói là mang tính quyết định) của một nhà lãnh đạo cụ thể, đó là những tên tuổi lớn như lãnh đạo của ở Tp HCM những năm cuối 80, của Bình Dương những năm đầu 90, ông Nguyễn Bá Thanh của Đà Nẵng, ông Nguyễn Sự của Hội An… đó là những thực tế sinh động. Vì vậy thiết nghĩa nên đưa tiêu chí cá nhân lãnh đạo vào tiêu chí thứ 10 của PCI vậy./.

Chú thích:
(a) Xem lại bài viết PCI và Chiến lược thương hiệu địa phương, cùng tác giả.
(b) Bạn đọc tham khảo các báo cáo PCI tại trang web: http://www.pcivietnam.org/ hoặc trang web chính của VCCI.
(c) Việc này xem ra cũng có cùng một định hướng giải pháp trong Nghị quyết TW 4

- Võ Văn Quang -

(Thanh Phương -
Theo Võ Văn Quang)

Ads

Lich thi dau bong da tại Tinmoi.vn 

Bán iphone 4s giá rẻ

Phí duy trì tên miền viettelidc.com.vn

Thương hiệu máy lọc nước hàng đầu Việt Nam