Nhu cầu lớn về thương hiệu biển Việt Nam
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, xác định rõ mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển với tỷ trọng kinh tế biển chiếm 53 - 55% GDP và kim ngạch xuất khẩu đạt từ 55 - 60%. Để đạt được mục tiêu này cần phải xây dựng được các thương hiệu kinh tế biển, hình thành thương hiệu biển để biển Việt Nam đủ sức cạnh tranh hướng đến thị trường quốc tế rộng lớn.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi (Phó Tổng Cục Trưởng Tổng cục Biển & Hải đảo), thị trường kinh tế biển Việt Nam đang chuyển biến mạnh mẽ, nhưng việc khai thác sử dụng biển, ven biển và đảo còn bộc lộ nhiều bất cập, buộc các nhà quản lý, hoạch định chính sách phải nhanh chóng có hướng tiếp cận mới. Nhu cầu hình thành những thị trường lớn đòi hỏi phải có thương hiệu xứng tầm. Việc tạo dựng và khai thác giá trị thương hiệu sẽ giúp Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, mạnh hơn đồng thời, hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới sâu rộng hơn. Để thực hiện thành công chiến lược biển, Việt Nam không chỉ phát huy nội lực mà còn phải hợp tác và thu hút sự đầu tư, giúp đỡ của các quốc gia khác thông qua thương hiệu. Ngoài lợi ích kinh tế, thương hiệu biển Việt Nam được xây dựng còn mang dấu ấn “cảm xúc” để biển Việt Nam đi vào tâm trí mọi người dân.
|
Quảng Ninh là một trong những tỉnh đi tiên phong và gặt hái thành công trong xây dựng các thương hiệu biển. Nhiều sản phẩm - dich vụ biển như Tu Hài, Hàu, Sá Sùng (Vân Đồn - Cô Tô), nước mắm Cái Rồng – Vân Đồn, nước mắm Đại Yên – Hạ Long, chả mực Hạ Long, Khu du lịch Tuần Châu, Hoàng Gia – Hạ Long, cảng biển Cái Lân, cảng Hòn Gai, cảng Cẩm Phả, bãi biển Trà Cổ - Móng Cái; đã và đang trở nên hấp dẫn trên thị trường nhờ sự liên kết, quảng bá thương hiệu địa phương. Tất cả làm nên thương hiệu biển mạnh của Quảng Ninh, góp phần vào quá trình khẳng định thương hiệu biển Việt Nam. |
Những thách thức trong cạnh tranh toàn cầu đối với “sản phẩm biển”, đã và đang đòi hỏi các quốc gia, địa phương và doanh nghiệp thay đổi cách nhìn của mình về kinh tế biển cũng như hiệu quả đích thực của nó. Lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất cơ bản (nhân công rẻ, giá thuê đất thấp, gần nguồn nguyên liệu, giàu tài nguyên thiên nhiên…), không còn là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư. Trên thực tế, tất cả những yếu tố “đo lường” được đều có thể dễ dàng bị bắt chước. Do đó, việc thu hút đầu tư phát triển kinh tế bằng các yếu tố “lý tính” đã không còn nhiều tác dụng cạnh tranh. Các vùng, địa phương và ngành ngày nay đều phải tự thân vận động như một doanh nghiệp.
Dưới tác động của thị trường, các nhà quản lý, lãnh đạo nhận ra rằng, chỉ có xây dựng địa phương (hay ngành) mình như một “thương hiệu sản phẩm” hấp dẫn và quảng bá hiệu quả nét đặc thù của địa phương (hay ngành) mình thì mới có thể thu hút được nhiều nguồn đầu tư cũng như chiếm lĩnh thị trường… Các nhà quản lý ở địa phương (đặc biệt là các địa phương có biển) nhận thức rõ: yếu tố “cảm tính” như xây dựng mối quan hệ bền chặt, tạo dựng hình ảnh tin cậy hay sử dụng phương tiện truyền thông để chuyển tải hình ảnh “có hồn” (là thương hiệu) quan trọng hơn rất nhiều việc đưa ra một mức giá thấp nào đó về nhân công hay phí thuê đất, mặt nước.
Nhiều chuyên gia cho rằng, rất nhiều địa phương (cả Việt Nam và thế giới) tuy không có lợi thế về điều kiện công nghệ, nhân lực, thậm chí nghèo nàn về tài nguyên, nhưng nhờ quảng bá tốt hình ảnh của mình thông qua thương hiệu (hay sự liên kết thương hiệu) với các địa phương khác mà đã chiếm được thị trường rộng lớn hoặc tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Thương hiệu biển Việt Nam sẽ đủ mạnh, đủ hấp dẫn, có yếu tố cạnh tranh cao đem lại nhiều lợi ích từ nhiều lĩnh vực cho quốc gia trên cơ sở quy tụ những thương hiệu mạnh của các địa phương, hay lĩnh vực kinh tế hàng đầu của đất nước.
(Phương Trinh -
Theo Thanhtra.com.vn)














