Kinh tế Biển, Thương hiệu và Chủ quyền
(Bài viết hưởng ứng Diễn đàn Kinh tế Biển Việt Nam 6-2011 tại Nha Trang. Đây là lần thứ hai Bộ Tài nguyên, Môi trường, Bộ kế hoạch đầu tư và Tổng Cục Biển Đảo tổ chức diễn đàn thương hiệu biển lần 1 tại Hạ Long (2009), và lần 2 về Kinh tế Biển tại Nha Trang 6-2011).
Bối cảnh quan hệ kinh tế quốc tế dựa trên quyền lực mềm (1)
Khuynh hướng sử dụng quyền lực mềm trong cạnh tranh kinh tế cũng như chính sách đối ngoại của các nước phát triển phương Tây trong những thập niên gần đây ngày càng trở nên phổ biến. Trong marketing chúng tôi cũng đã giải thích động thải ‘hậu tư bản’ thông qua mô thức P3&P4 tức chiến lược chú trọng thiết lập thương hiệu (P4) và hệ thống phân phối (P3). Việc sẵn sàng từ bỏ các công đoạn sản xuất chi phí lao động rẻ đã và đang chuyển dịch ồ ạt sang các nước thế giới thứ ba và các tập đoàn thương hiệu mạnh tập trung nghiên cứu đột phá sản phẩm, thiết lập thương hiệu mạnh và chuyên nghiệp phân phối là một trong những khuynh hướng chủ đạo mang lại thành công vững bền. Song song đó chủ quyền càng ngày càng hoá thân vào quyền lực thương hiệu, đi chinh phục người tiêu dùng khắp thế giới.
Trong động thái chính phủ và tổ chức doanh nghiệp triển khai phong trào người Việt Nam Ưu tiên dùng Hàng Việt Nam không chỉ là một động thái kinh tế đơn thuần mà còn là một sự quảng bá ý thức chủ quyền thông qua thương hiệu sản phẩm.
Dưới góc độ kinh tế biển khái niệm ‘giá trị mềm’ cũng cần đuợc áp dụng theo hướng đổi mới sáng tạo, phát huy bản sắc & nội lực và tăng cường hội nhập. Đó là cơ sở lý luận cần thiết trong đổi mới tư duy từ kinh tế truyền thống và kinh tế hàng hoá sang kinh tế có hàm lượng ‘giá trị mềm’ gia tăng và có sự khẳng định thương hiệu như là điều kiện cơ bản của phát triển bền vững và phát huy chủ quyền.
Chiến lược định vị quốc gia cũng cần vận dụng vào chiến lược kinh tế biển.
Dưới góc độ Marketing, chúng tôi nhận thức rằng Chiến lược Định vị Quốc gia trong giai đoạn những thập niên sau chiến tranh của Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn định vị chủ yếu:
Một là: ‘Đổi mới’ tính từ 1986, đã mang lại những kết quả thay đổi trong những năm đầu thập niên 90.
Hai là: Phát huy ‘Nội lực’ kể từ khi xảy ra khủng hoản tài chính khu vực năm 1998.
Ba là: ‘Hội nhập’ là giai đoạn sau 2000 đến mốc thời điểm 2006 khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO cho đến nay.
Như vậy về cơ bản chúng ta cũng cần một sự hạch định về chiến lược thương hiệu kinh tế biển hoặc chiến lược thương hiệu kinh tế theo từng mảng, từng lĩnh vực cụ thể hơn có xem xét ưu tiên mảng kinh tế mà trong đó hàm lượng ‘giá trị mềm’ cao hơn như là kinh tế du lịch biển, kinh tế hậu cần biển (logistic), kinh tế chế biến sản phẩm biển giá trị cao…Theo đó 3 khái niệm định vị quốc gia sẽ trở thành thế chân vạc bao gồm: Đổi mới Tư duy - Phát huy Nội lực và Hội nhập Quốc tế.
Lễ hội Thuyền buồm Mũi Né 2011, Lễ hội Pháo Hoa Đà Nẵng và Carnival Hạ Long là những hướng đi vừa mang tính sáng tạo, vừa phát huy nội lực hay bản sắc và mang tính hội nhập.
Một trong những phong trào vừa mới phát động hiện nay vừa mang tính ‘nội lực’ vừa mang tính ‘sáng tạo’ đó là phong trào góp đá xây dựng Trường Sa khởi đầu từ ý tưởng cá nhân và được báo Tuổi trẻ lĩnh xướng, đây là những hình thức marketing rất hữu hiệu. Trong một nỗ lực khác Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang triển khai những dự án thiết thực cho biển đảo, như cung cấp hệ thống năng lượng gió và mặt trời là những đầu tư rất thiết thực và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Kinh tế phát triển vững mạnh giúp hình thành Thương hiệu và làm vững chắc Chủ quyền
Kinh tế định hướng Thương hiệu là mô thức sâu sắc liên quan mật thiết đến đến chủ quyền. Chẳng hạn đơn cử sự chọn lựa ưu tiên giữa việc khai thác quặng Titan dọc theo bờ biển và các khu resort và sản phẩm du lịch, chúng ta cần cân nhắc lợi thế Thương hiệu cho ngành du lịch, kể cả những lợi ích cộng đồng và môi trường. Quan điểm này cũng tác động việc ra quyết định ưu tiên phat1 triển các vùng ven biển cho du lịch và đẩy lùi các khu công nghiệp vào sâu hơn hoặc những vị trí ít hấp dẫn hơn về du lịch. Song song đó là nâng cao chủ quyền của doanh nghiệp thông qua Thương hiệu theo hướng chuyên nghiệp hoá năng lực marketing và thương hiệu.
Bên cạnh việc bình chọn Vịnh Hạ Long là ký quan thiên nhiên thế giới, chúng ta cũng cần có một chiến lược khai thác ‘kinh tế mềm’ cho Hạ Long vừa khai thái thác vừa tôn vinh giá trị và bảo tồn. Nếu không có những tư duy kinh tế theo giá trị mềm và kinh tế thương hiệu thì rất khó hình dung những chiến lược khai thác tiềm năng kinh tế của Vịnh hạ Long một cách bền vững.
Việc quảng bá một địa danh biển đảo như Trường Sa (phạm trù thương hiệu địa danh) không chỉ là tuyên truyền nhận thức mà cũng cần một chiến lược khai thác thương hiệu địa danh biển (Trường Sa) trong việc gắn nhãn vào sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp, giúp quảng bá một thương hiệu thuộc biển đảo Việt Nam ra khắp thế giới thông qua những sản phẩm giá trị cao và chuyên nghiệp, đó là sự hiện thực hoá một ‘giá trị mềm’ của biển đảo trong cộng đồng và từ đó nâng cao mức độ chủ quyền theo hướng quyền lực mềm song hành nhận thức thương hiệu quốc gia (2)
Ngành Logistic hướng biển, một hướng đi đầy tiềm năng
Ngành hậu cần kinh tế biển có những định hướng và tiềm năng to lớn. Trong đó có thể tóm tắc 3 hướng chủ đạo, một là: kinh tế hậu cần du lịch biển; hai là: kinh tế hậu cần kỹ thuật dầu khí, và ba là: hậu cầu vận tải biển.
Trong 3 lĩnh vực này, chúng ta có thể thấy bước đầu ngành dầu khí Việt Nam đã và đang có những bước chuyển mình vượt bậc xây dựng ngành hậu cần kỹ thuật dầu khí, đơn cửa công ty PTSC đang nhanh chónh trở thành một thương hiệu uy tín quốc tế với doanh số vài tỷ USD mỗi năm và đóng vai trò ngày càng quan trọng ngang bằng và cao hơn so với mảng khai thác thô. Tuy nhiên ngành hậu cần vận tải biển (sea & ocean logistic) cũng là một ngành mũi nhọn của đất nước Việt Nam hình chữ S với trên 3000km bờ biển và nhiều vị trí cảng biển chưa thực sự khẳng định tên tuổi của mình. Hiện này tỷ trọng vận tải xuất nhập khẩu với đội tàu mang thương hiệu Việt Nam vẫn còn chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn. Tại hội thảo Logistic Việt Nam năm 2011 thì Nhật Bản đặc biệt chú ý đến tiềm năng Logistic của Việt Nam, cụ thể hơn như tập đoàn Lotte (Nhật-Hàn) cũng đã xây dựng một hệ thống hậu cần tại Việt Nam với cơ sở kho bai và hệ tống thông tin chuyên nghiệp đáp ứng những yêu cầu như: kho hàng lạnh, kho hàng khô, kho mát…Trong nước thì tập đoàn Đồng Tâm cũng nhanh chóng đầu tư xây dựng KCN & Cảng Quốc tế Long An nhằm đón đầu luồng hàng xuất khẩu từ khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
Ngoài ra Ngành Logistic hướng biển còn có ngành hậu cần vận tải du lịch biển với hệ thống cảng du lịch, và kể cả đội tàu du lịch biển cao cấp, đó là những tiềm năng lớn của kinh tế biển Việt Nam chỉ riêng trong lĩnh vực Logistic.

Chú thích:
- Khái niệm ‘quyền lực mềm’ do Gs Joseph Nye (Mỹ) khởi xướng và được biết đến trong quyển sách ‘Mặt trái của nước Mỹ’ được xem là có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách ngoại giao của Mỹ kể từ sau Thế chiến Lần thứ II và nhất là sau Chiến tranh Việt Nam.
- Thương hiệu quốc gia gồm 7 dạng thức, các ví dụ ở đây theo định hướng kinh tế biển: (1) thương hiệu chính thức quốc gia (Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam); (2) tập hợp các thương hiệu địa danh tiêu biểu quốc gia, vd: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh…; (3) sản vật tiêu biểu quốc gia, vd: Nước Mắm Phú Quốc; (4) doanh nghiệp tiêu biểu quốc gia, vd: Petro Vietam; (5) di sản văn hoá quốc gia, vd: di sản Ca trù, Hội Gióng...; (6) danh nhân đương đại quốc gia (thương hiệu sứ giả), vd: hình tượng Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh; (7) thương hiệu chứng nhận và quảng bá cấp quốc gia, vd: thương hiệu du lịch.
- Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang -
(Tác giả: Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang
Phương Trinh - vnBrand)














