Lê Lộc - Người “khai sinh” túi tự hủy ở Việt Nam
Hành trình của niềm tin
Sinh năm 1948, nhận học khoa hóa tại Đại học Bách khoa Phú Thọ, Sài Gòn vào năm 1967, ông Lộc (Giám đốc công ty TNHH - TM - DV Phúc Lê Gia, TP.HCM) từng là người nghiên cứu môi trường nhiều năm cho một công ty của Mỹ ở Việt Nam. Vì thế, ông ý thức rõ vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta, đặc biệt là rác thải từ bao ni-lông. Người đàn ông ấy có những lúc trăn trở đến mất ăn mất ngủ về nạn rác ni-lông trong suốt bao năm trời và nhất quyết một ngày nào đó sẽ “dẹp nạn”.
Ông thổ lộ: “Nhìn những dòng kênh đen, kẹt ứ vì rác thải từ túi ni-lông, những chiếc túi ni-lông vứt bừa bãi trên bãi cỏ, ở một góc nào đó tôi cảm thấy mình cần phải làm một điều gì đó. Nếu không có một chiến lược cụ thể về môi trường thì túi ni-lông sẽ trở thành một lượng rác thải khổng lồ, vì phần lớn ở Việt Nam các nhà sản xuất chỉ làm được những chiếc túi, bọc ni-lông tự rã mà không thể phân hủy hoàn toàn được, trong khi nhu cầu sử dụng của con người ngày càng nhiều”.
Và ý tưởng để cho ra đời những sản phẩm túi ni-lông tự hủy đã thôi thúc ông dấn thân vào việc nghiên cứu, tìm tòi trong hơn 5 năm trời, bắt đầu từ năm 2000. Ông quyết tâm đi tới cùng “cuộc hành trình” ấy, một công việc mà những đồng nghiệp của ông, thậm chí những nhà nghiên cứu khoa học đã cho là ý tưởng điên rồ khiến ông từ bỏ cả việc làm ở công ty để dành thời gian, toàn tâm toàn lực cho việc nghiên cứu: “Niềm tin vào kiến thức, bản thân và cái tâm của một người làm môi trường đã thôi thúc tiếp thêm niềm tin cho tôi dù ý tưởng đó của tôi ngay cả những người làm chung công ty biết được cũng bảo “tao đố mày làm được”. Thậm chí những người trong gia đình, bạn bè thân cũng cho đó là điên rồ”.
Khởi đầu cho công việc đó ông đã “dầm mình” ở các siêu thị, bệnh viện, đến từng khu phố, từng gia đình tìm hiểu ý thức và khai thác tâm lý người dân để cho ra một sản phẩm phù hợp vì theo ông: “Nếu thành công thì sản phẩm đó không quá đắt và điều quan trọng là người dân có ý thức để sử dụng hay không.Tôi đã mất khá nhiều thời gian cho việc này”.
Thông thạo ngoại ngữ Anh, Pháp đã giúp ông rất nhiều trong việc cập nhật thông tin, nghiên cứu tài liệu từ sách báo nước ngoài, internet… và học hỏi kinh nghiệm, ý kiến của những nhà khoa học nước ngoài. Tìm ra được công thức cho sản phẩm ni-lông tự hủy từ nhựa và hạt tự hủy không phải là đơn giản vì còn phải tìm hiểu thời tiết, khí hậu của từng vùng ở Việt Nam cho phù hợp: “Một sản phẩm từ ni-lông tự hủy có thể phù hợp ở vùng này nhưng ở vùng có thời tiết khác thì nó không thể tự hủy như mong muốn. Vì thế mà tôi mới mất nhiều thời gian để đi đến từng vùng, khu vực, các tỉnh để tìm hiểu”.
Tâm là thế, nhưng tài chính để thực hiện đã khiến ông đau đầu và đôi lúc nản lòng vì lực bất tòng tâm: “Phần lớn những vật liệu để nghiên cứu phải mua từ nước ngoài như hạt tự hủy vì ở Việt Nam không có. Nhưng công việc nghiên cứu nhỏ lẻ như tôi cũng không cần phải mua nhiều, chỉ là một lượng ít ỏi, tôi phải thường xuyên đi đến các nơi như Hồng Kông, Trung Quốc… để tự mua và đem về nên chi phí cho việc đi lại là rất lớn”.
Dồn tiền bạc, cầm cố thế chấp nhà cửa, đất đai để vay ngân hàng nhưng cũng có không ít ngân hàng vẫn không tạo điều kiện vì cho rằng việc làm của ông không khả thi: “Cuối cùng tôi cũng vay được nhưng cam go lắm, thuyết phục lắm thì mới có nơi đồng ý. Ban đầu khi nghe ý tưởng của tôi nhiều người ủng hộ nhưng họ không tin là tôi làm được. Thậm chí có những doanh nghiệp, nhà sản xuất ban đầu có vẻ hào hứng lắm, họ bảo sẽ sát cánh cùng tôi nhưng cuối cùng đã rút lui”.
Ngậm ngùi và cũng không muốn đánh mất niềm tin, ông phải tự thân vận động, lặng lẽ làm việc ngày này qua tháng nọ: “Tôi phải quyết tâm cho ra sản phẩm tự hủy đúng chất của nó vì lâu nay người sử dụng và cả nhà sản xuất luôn “mập mờ” giữa ni-lông tự hủy và tự rã. Nên một sản phẩm hoàn hảo là điều tôi mong muốn. Nhiều khi cầm chén cơm trên tay cũng không thể nuốt nổi vì những trăn trở, suy nghĩ về công việc mà mình đang làm. Có những người, những doanh nghiệp còn bảo tôi là kẻ lừa đảo, điên khùng nữa cơ”.
Niềm vui của “người điên”
Trồng cây cũng có ngày hái quả, vào năm 2006 những kết quả bước đầu đã tiếp thêm niềm tin cho Lê Lộc. Ông đã cho thử nghiệm sản xuất và sử dụng nhưng vẫn không như mong muốn. “Thất bại thì không nhưng tôi phải thử nghiệm, rồi hoàn thiện từng bước một để tìm một công thức phù hợp nhất cho thực tế. Đây cũng được xem là công việc nghiên cứu khoa học nên không thể không kỹ càng và cần từng bước thử nghiệm”.
Lại mất ăn mất ngủ, lại bị dèm pha, thậm chí công kích. Thời gian là một thử thách kiên nhẫn đối với lòng người và sự kiên nhẫn, tin và chờ đợi đó của ông chưa bao giờ lung lay: “Tôi nhất quyết phải làm cho được để chứng minh với mọi người rằng tôi không điên. Ý tưởng của tôi phải hoàn thiện”.
Để làm được công việc đó ông phải trải qua cả hàng chục lần thử nghiệm, sử dụng thử ở từng nơi. Vẫn là một mình, đi về tìm hiểu, tuyên truyền, quảng bá sản phẩm để có thể đến tay người sử dụng và đợi ý kiến phản hồi. “Thu nhặt kết quả, làm ra sản phẩm đã khó nhưng thuyết phục để người ta tin vào sản phẩm của mình lại càng khó hơn. Bởi còn nhiều vấn đề về tâm lý tiêu dùng, sự an toàn của sản phẩm, giá cả vì lâu nay họ vẫn quen sử dụng dạng ni-lông thông thường nên tôi phải nghiên cứu điều tiết cho hợp lý”.
Ông lại bỏ công đi thăm dò, tìm hiểu thậm chí tiếp thị ở các siêu thị lớn, nhà sản xuất, nhà hàng, bệnh viện, vì “chính tôi là người hiểu rõ nhất sản phẩm của mình làm ra. Nên tôi có thể giải thích một cách rõ nhất công dụng, tính chất của sản phẩm. Tôi muốn người sử dụng hiểu được tâm huyết của tôi. Đây không chỉ đơn thuần là sản phẩm để sử dụng mà nó mang một ý nghĩa môi trường, xã hội rất hữu ích”.
Và ông đã hoàn thiện được điều đó khi đến nay hầu hết những sản phẩm túi ni-lông tự hủy đã có mặt ở một số siêu thị, Bệnh viện đa khoa Tiền Giang, Bệnh viện 115... Thậm chí xuất đi một số nước khác như Úc, Hàn Quốc, mỗi tháng 14 tấn sản phẩm. Hiện phía Mỹ đang làm thủ tục chứng thực chất lượng sản phẩm của ông Lộc để nhập khẩu. Túi ni-lông của ông đã được Trung tâm tiêu chuẩn đo lường chất lượng khu vực 3 công nhận và đã đăng ký nhãn hiệu độc quyền. Đầu tháng 5.2009 sản phẩm của ông đã được Bộ Tài nguyên – Môi trường trao giải thưởng “Nhãn xanh môi trường”.
“Đây là niềm tự hào của tôi. Vì ở Việt Nam chưa có ai làm được việc này. Tôi nghĩ mình đã làm được một việc rất có ích cho cộng đồng. Và cái quan trọng nhất tôi học được là niềm tin”. Ông nói nửa đùa nửa thật: “Đến bây giờ mà không thành công chắc tôi tự vẫn mất”.
(Đặng Quân -
Trích Thanh Niên Tuần San)










